Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Nghị quyết 10-NQ/TW: Xác lập chuẩn mới trong thu hút đầu tư nước ngoài

Nghị quyết 10-NQ/TW xác lập chuẩn mới trong thu hút FDI, lấy chất lượng, hiệu quả và liên kết với khu vực trong nước làm thước đo chủ yếu.

Duy trì xu hướng tích cực

Sau 40 năm đổi mới, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực, mở rộng thị trường xuất khẩu và đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Những năm gần đây, dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam vẫn duy trì xu hướng tích cực. Năm 2023, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký đạt gần 36,61 tỷ USD, vốn thực hiện hơn 23,18 tỷ USD. Năm 2024, tổng vốn đăng ký tiếp tục tăng lên gần 38,23 tỷ USD, trong khi vốn thực hiện đạt khoảng 25,35 tỷ USD, tăng 9,4% và là mức cao nhất từ trước đến thời điểm đó. Năm 2025, tổng vốn FDI đăng ký đạt khoảng 38,42 tỷ USD; riêng vốn thực hiện ước đạt 27,6 tỷ USD, tăng gần 9% so với năm 2024, lập kỷ lục giải ngân cao nhất trong 5 năm. Đà tăng ấy tiếp tục được nối dài trong những tháng đầu năm 2026, khi tính đến hết tháng 5, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt khoảng 24,81 tỷ USD, tăng 34,9% so với cùng kỳ năm trước; vốn FDI thực hiện ước đạt 9,75 tỷ USD, tăng 9,6%, là mức giải ngân cao nhất của giai đoạn 5 tháng đầu năm trong 5 năm gần đây. Những con số đó cho thấy, Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn của dòng vốn quốc tế, đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong tăng trưởng, sản xuất công nghiệp, xuất khẩu và việc làm.

Lãnh đạo UBND TP. Hồ Chí Minh trao giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho cá dự án công nghệ cao. Ảnh: VGP.

Lãnh đạo UBND TP. Hồ Chí Minh trao giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho cá dự án công nghệ cao. Ảnh: VGP.

Khi dòng vốn vẫn tăng, bài toán đặt ra không thể chỉ dừng ở số lượng, mà cần chú trọng đến chất lượng hơn nữa. Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được ban hành với mục tiêu cụ thể: “Quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài nhằm nâng cao năng lực sản xuất, tạo sự liên kết, lan tỏa với các khu vực kinh tế trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tham gia sâu các chuỗi cung ứng toàn cầu; góp phần xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tăng cường năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ chiến lược, nâng cao vị thế và uy tín quốc gia; tạo động lực quan trọng thực hiện thành công các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và năm 2045”.

Do đó, Nghị quyết số chính là câu trả lời cho một vấn đề lớn: Việt Nam cần dòng vốn đầu tư nước ngoài như thế nào để phục vụ mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.

Lựa chọn dòng vốn chất lượng cao

Điểm mới có tính xuyên suốt của Nghị quyết 10 là sự chuyển đổi rõ rệt về tư duy phát triển. Nếu trước đây, ở không ít nơi, việc thu hút đầu tư nước ngoài thường được đo bằng số dự án, vốn đăng ký, diện tích đất công nghiệp được lấp đầy, thì Nghị quyết lần này xác lập một cách tiếp cận khác: chuyển mạnh từ thu hút vốn sang phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia. Lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, giá trị gia tăng và mức độ lan tỏa làm tiêu chí chủ yếu.

Đây là sự điều chỉnh rất cần thiết bởi sau nhiều năm thu hút FDI, những mặt hạn chế đã bộc lộ khá rõ: tỷ lệ dự án thâm dụng lao động, tài nguyên, đất đai, năng lượng còn cao; tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng hình thành tại Việt Nam còn thấp; liên kết với doanh nghiệp trong nước chưa cao; chuyển giao công nghệ còn hạn chế. Một số địa phương vẫn tồn tại tình trạng cạnh tranh thu hút đầu tư theo số lượng. Nếu không thay đổi cách làm, rất dễ rơi vào tình trạng: vốn vào nhiều nhưng sức lan tỏa cho nền kinh tế trong nước chưa tương xứng.

Mục tiêu tổng quát mà Nghị quyết số 10 đặt ra là đưa Việt Nam trở thành điểm đến có sức cạnh tranh thu hút nguồn vốn nước ngoài trung và dài hạn chất lượng cao, quản lý và sử dụng hiệu quả dòng vốn này. Nâng cao năng lực sản xuất, tạo liên kết, lan tỏa với các khu vực kinh tế trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, tham gia sâu các chuỗi cung ứng toàn cầu, góp phần xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số…

Các chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030 cho thấy rất rõ tinh thần đó: “Giai đoạn 2026-2030: Thu hút vốn đầu tư nước ngoài đăng ký khoảng 200-300 tỷ USD (40-50 tỷ USD/năm); vốn thực hiện khoảng 150-200 tỷ USD (30-40 tỷ USD/năm). 75% vốn đầu tư nước ngoài đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm lực về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại; số lượng tập đoàn đa quốc gia trong danh sách Fortune 500 có hoạt động đầu tư tại Việt Nam tăng 30%; thu hút các tập đoàn đa quốc gia đầu tư các trung tâm nghiên cứu, thiết kế, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, trụ sở khu vực, trung tâm điều hành, trung tâm ngân quỹ, trung tâm mua sắm, trung tâm dịch vụ dùng chung, trong đó có ít nhất 3 tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, văn phòng, trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Việt Nam”.

Sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài nhằm nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Ảnh: Cấn Dũng

Sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài nhằm nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Ảnh: Cấn Dũng

Điều được nhấn mạnh là chất lượng của dòng vốn, thương hiệu của nhà đầu tư, hàm lượng công nghệ của dự án và khả năng hình thành hệ sinh thái sản xuất, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo tại Việt Nam. FDI phải trở thành một “kênh” nâng cấp doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Những giải pháp căn cơ

Nghị quyết số 10 dành dung lượng lớn cho phần nhiệm vụ, giải pháp, với tinh thần rất rõ: phải thay đổi cách thu hút, cách ưu đãi, cách quản lý và cả cách kết nối khu vực đầu tư nước ngoài với nền kinh tế trong nước.

Trước hết, hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh - là “gốc” của mọi vấn đề. Trong cạnh tranh thu hút dòng vốn chất lượng cao, ưu đãi thuế hay tiền thuê đất không còn là lợi thế quyết định. Điều nhà đầu tư chiến lược cần là một môi trường pháp lý minh bạch, ổn định, có khả năng dự báo cao; thủ tục thông thoáng; cơ chế phối hợp liên thông giữa các cơ quan; thời gian xử lý nhanh; chi phí tuân thủ thấp. Nghị quyết vì vậy yêu cầu hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật trong các lĩnh vực đầu tư, doanh nghiệp, đất đai, quy hoạch, xây dựng, thuế, hải quan, thương mại, cạnh tranh, ngoại hối, chứng khoán, sở hữu trí tuệ, dữ liệu, lao động, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; đồng thời kịp thời tháo gỡ chồng chéo, mâu thuẫn, điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện.

Nghị quyết yêu cầu đổi mới cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, chuyển dần từ ưu đãi truyền thống sang cơ chế hỗ trợ gắn với hiệu quả hoạt động của dự án. Xây dựng cơ chế hậu kiểm, thu hồi ưu đãi nếu nhà đầu tư không thực hiện theo cam kết. Đây là thay đổi quan trọng về chất. Ưu đãi không còn là “mặc định có dự án là có ưu đãi”, mà phải gắn với kết quả thực hiện các cam kết về công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường, đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và phát triển, đào tạo và sử dụng nhân lực Việt Nam,

Một trụ cột khác là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Không có nhân lực phù hợp thì không thể đón dòng vốn công nghệ cao, càng không thể tận dụng được hiệu ứng lan tỏa từ các dự án chiến lược. Nghị quyết yêu cầu xây dựng chương trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với nhu cầu của các ngành, lĩnh vực ưu tiên, các cụm liên kết ngành, khu công nghiệp, khu công nghệ cao và dự án chiến lược; đẩy mạnh liên kết giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp trong nước và nhà đầu tư nước ngoài; hỗ trợ các dự án đào tạo nguồn nhân lực. Khuyến khích doanh nghiệp FDI sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, từng bước giao nhiệm vụ kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế, vận hành chuỗi cung ứng cho người Việt Nam.

Nghị quyết còn nhấn mạnh đến “lan tỏa từ FDI”. Điều này thể hiện rõ ở nhóm giải pháp thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế số, chuyển giao công nghệ và tăng liên kết với khu vực kinh tế trong nước. Theo đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải cam kết về công nghệ, nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ, đào tạo người Việt Nam, tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước, phát triển nhà cung ứng nội địa, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số để được hưởng ưu đãi đầu tư theo kết quả thực hiện. Hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực quản trị, công nghệ, tiêu chuẩn, tài chính, truy xuất nguồn gốc và khả năng tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI.

Nghị quyết số 10-NQ/TW: Hình thành cơ chế lựa chọn, hỗ trợ, quản lý nhà đầu tư chiến lược; xác định một số nhóm lĩnh vực, công nghệ chiến lược ưu tiên thu hút trong từng giai đoạn và có danh mục mở được rà soát, cập nhật định kỳ đối với các lĩnh vực công nghệ, công nghiệp, dịch vụ mới nổi có lợi thế so sánh, lợi thế vị trí và khả năng lan tỏa cao.

Hà Trang
Thích

Tin liên quan

Đối tác tin cậy