Phát triển bền vững ngành nuôi tôm nước lợ
Ngành nuôi tôm nước lợ đang giữ vai trò trụ cột trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh. Tuy nhiên, trước những thách thức từ biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh ngày càng phức tạp, việc chủ động phòng bệnh, kiểm soát môi trường và nâng cao chất lượng con giống được xem là giải pháp then chốt để phát triển ngành tôm theo hướng bền vững.
![]() |
| Nuôi tôm thẻ chân trắng tại xã Thạnh Hải. |
Thông tin từ ngành nông nghiệp tỉnh, năm 2025 diện tích nuôi tôm nước lợ trên địa bàn đạt khoảng 69,8 ngàn hecta, chiếm hơn 61% diện tích nuôi trồng thủy sản. Sản lượng tôm nuôi đạt trên 308 ngàn tấn, đóng góp gần một nửa tổng sản lượng thủy sản của tỉnh và mang lại giá trị sản xuất hơn 23,8 ngàn tỷ đồng. Tỉnh xếp thứ 3 về diện tích, chiếm 11% so cả nước và đứng ở vị trí thứ 2 về sản lượng chiếm 24% so với cả nước. Những con số trên cho thấy, tôm nước lợ đang là đối tượng nuôi chủ lực, tạo sinh kế cho hàng chục ngàn hộ dân ven biển. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, nghề nuôi tôm vẫn đối mặt nhiều rủi ro do biến động thời tiết và sự xuất hiện của nhiều loại dịch bệnh nguy hiểm.
Từ đầu năm 2026 đến nay, đã ghi nhận khoảng 125,9ha tôm nuôi bị thiệt hại, chủ yếu ở giai đoạn 15-60 ngày tuổi. Các bệnh thường gặp như bệnh phân trắng, vi bào tử trùng (EHP), đường ruột và các tác động từ yếu tố môi trường.
Phát biểu tại hội thảo triển khai kế hoạch phòng, chống dịch bệnh trên tôm nước lợ mùa vụ năm 2026, ông Phạm Minh Truyền- Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho rằng: “Nuôi tôm nước lợ là ngành kinh tế quan trọng của tỉnh. Vì vậy, công tác phòng, chống dịch bệnh phải được thực hiện chủ động, đồng bộ từ khâu con giống, môi trường đến quy trình kỹ thuật nuôi, nhằm hạn chế tối đa rủi ro cho người dân và đảm bảo phát triển bền vững”.
Trong giai đoạn 2023-2025, tổng diện tích tôm thiệt hại 6.930/207.095ha (chiếm 3,4%) tổng diện tích tôm thả nuôi. Tỷ lệ tôm thiệt hại biến động theo từng năm.
Các nghiên cứu, khảo sát môi trường vùng nuôi tôm nước lợ cho thấy, nhiều yếu tố tự nhiên có thể làm gia tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh. Theo kết quả quan trắc, độ mặn trong vùng nuôi dao động từ 3-30‰, pH từ 7-8,5 và oxy hòa tan từ 3-6 mg/l. Tuy nhiên, một số chỉ tiêu như chất rắn lơ lửng và hàm lượng hữu cơ trong nước có thời điểm biến động khá lớn.
Theo GS.TS Trương Quốc Phú- Trường Thủy sản- ĐH Cần Thơ, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu và sự lưu hành của các mầm bệnh như: đốm trắng, hoại tử gan tụy cấp hay EHP đang là những thách thức lớn đối với nghề nuôi tôm hiện nay. “Dịch bệnh trên tôm thường bùng phát khi môi trường ao nuôi biến động mạnh, đặc biệt trong điều kiện nhiệt độ giảm, mưa kéo dài hoặc độ mặn thay đổi đột ngột. Vì vậy, kiểm soát môi trường và ngăn chặn mầm bệnh từ đầu vụ nuôi là yếu tố quyết định thành công”, GS.TS Trương Quốc Phú nhận định.
Kết quả giám sát mầm bệnh cũng cho thấy, bệnh đốm trắng có tỷ lệ xuất hiện cao trong môi trường tự nhiên, chiếm hơn 50% số mẫu nhiễm được ghi nhận. Điều này cho thấy mầm bệnh luôn tồn tại ngoài môi trường và có thể gây bùng phát dịch bất cứ lúc nào nếu điều kiện thuận lợi.
Theo GS.TS Trương Quốc Phú, để giảm thiểu rủi ro dịch bệnh, người nuôi cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, từ khâu chuẩn bị ao nuôi, lựa chọn con giống đến quản lý môi trường và dinh dưỡng. Một trong những yếu tố quan trọng là chọn tôm giống chất lượng. Cơ sở sản xuất giống hiện nay áp dụng nhiều biện pháp kiểm soát dịch bệnh như; xét nghiệm PCR đối với tôm bố mẹ, xử lý nguồn nước cấp và khử trùng nauplius nhằm loại bỏ mầm bệnh ngay từ giai đoạn đầu.
![]() |
| Nuôi tôm thẻ chân trắng tại xã Thạnh Hải. |
Bên cạnh đó, việc xây dựng hệ thống an toàn sinh học trong trại giống cũng được xem là giải pháp hiệu quả để ngăn chặn lây lan dịch bệnh. Cơ sở sản xuất giống áp dụng mô hình kiểm soát nhiều lớp, từ kiểm soát nguồn tôm bố mẹ, xử lý nước cấp, phân khu sản xuất cho đến khử trùng định kỳ toàn bộ khu vực nuôi.
Ở khâu nuôi thương phẩm, người nuôi cần tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật như: cải tạo ao, xử lý nguồn nước, thả giống đúng mật độ, thường xuyên theo dõi các chỉ tiêu môi trường như pH, nhiệt độ, oxy hòa tan và khí độc trong nước. Việc sử dụng chế phẩm sinh học, bổ sung vitamin và khoáng chất cũng giúp tăng sức đề kháng cho tôm, hạn chế nguy cơ phát sinh dịch bệnh.
Ông Đặng Văn Huệ, một hộ nuôi tôm tại xã Bình Đại cho biết, những năm gần đây, dịch bệnh trên tôm xảy ra khá phức tạp, nếu người nuôi chủ quan thì dễ dẫn đến thiệt hại lớn. Vì vậy, gia đình ông luôn chú trọng khâu chuẩn bị ao nuôi trước mỗi vụ thả giống.
“Trước khi thả tôm, ao nuôi phải được cải tạo kỹ, tháo cạn nước, dọn bùn đáy, bón vôi khử trùng và phơi đáy ao từ 7-10 ngày. Nguồn nước cấp phải xử lý cẩn thận để loại bỏ mầm bệnh”, ông Huệ chia sẻ.
Năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu phát triển khoảng 71,3 ngàn hecta nuôi tôm nước lợ, với sản lượng dự kiến đạt hơn 314,7 ngàn tấn. Ông Phạm Minh Truyền- Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết: Để đạt được mục tiêu này, tỉnh đang tập trung triển khai nhiều giải pháp như: tăng cường quan trắc môi trường vùng nuôi, giám sát dịch bệnh, kiểm soát chất lượng con giống, đồng thời đẩy mạnh chuyển giao khoa học- kỹ thuật cho người dân.
Ngành nông nghiệp khuyến khích người dân áp dụng mô hình nuôi tôm theo hướng an toàn sinh học; nuôi tuần hoàn hoặc nuôi nhiều giai đoạn, nhằm kiểm soát tốt dịch bệnh và giảm tác động môi trường. Việc tăng cường liên kết giữa người nuôi, doanh nghiệp cung cấp giống, doanh nghiệp chế biến và cơ quan quản lý sẽ góp phần hình thành chuỗi sản xuất bền vững, nâng cao giá trị ngành tôm nước lợ. Nếu kiểm soát tốt dịch bệnh và nâng cao chất lượng con giống, ngành nuôi tôm nước lợ của tỉnh hoàn toàn có thể phát triển ổn định, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế nông nghiệp và nâng cao thu nhập cho người dân vùng ven biển.



