Xây dựng bản đồ vùng nguyên liệu dừa có kiểm soát
Chiều 19/6, UBND tỉnh Vĩnh Long đã có buổi làm việc với Hiệp hội Dừa Việt Nam về kế hoạch triển khai chương trình “Xây dựng bản đồ vùng nguyên liệu có kiểm soát” và phối hợp thực hiện các chương trình phát triển ngành dừa.
Đồng chí Châu Văn Hòa - Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì buổi làm việc. Tham dự, có đại diện lãnh đạo các sở, ngành liên quan, Hiệp hội Dừa Việt Nam, Hiệp hội Dừa tỉnh Vĩnh Long và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dừa.
![]() |
| Phó Chủ tịch UBND tỉnh Châu Văn Hòa chủ trì buổi làm việc với Hiệp hội Dừa Việt Nam về kế hoạch xây dựng bản đồ dừa. |
Tại buổi làm việc, ông Cao Bá Đăng Khoa - Phó Chủ tịch Hiệp hội Dừa Việt Nam giới thiệu kế hoạch xây dựng bản đồ vùng nguyên liệu dừa hữu cơ có kiểm soát, nhằm thống kê, quản lý và cập nhật dữ liệu các vùng nguyên liệu dừa theo hướng số hóa, minh bạch và đồng bộ. Chương trình hướng đến việc xác định rõ các vùng dừa nguyên liệu, kiểm soát chất lượng, sản lượng, tình trạng chứng nhận hữu cơ, mã số vùng trồng; đồng thời, xây dựng chuỗi cung ứng nguyên liệu ổn định, bền vững phục vụ chế biến và xuất khẩu. Theo kế hoạch, giai đoạn 2026 - 2028 sẽ tập trung hoàn thiện dữ liệu vùng dừa tại các địa phương trọng điểm; trong đó, có tỉnh Vĩnh Long.
Thông tin từ Sở Nông nghiệp và Môi trường, đến quý I/2026, Vĩnh Long có 122.870ha dừa, chiếm trên 61% diện tích dừa cả nước; trong đó, hơn 30.700ha dừa đạt chứng nhận hữu cơ. Hiện tỉnh có 222 mã số vùng trồng dừa tươi xuất khẩu và 29 cơ sở đóng gói được cấp mã số xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc.
![]() |
| Quang cảnh buổi làm việc. |
Phát biểu tại buổi làm việc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Châu Văn Hòa đánh giá cao chủ trương xây dựng bản đồ vùng nguyên liệu có kiểm soát; xem đây là giải pháp quan trọng phục vụ chuyển đổi số ngành nông nghiệp, nâng cao hiệu quả quản lý vùng nguyên liệu và tăng cường liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị, các bên tiếp tục làm rõ mục tiêu, lộ trình, cơ chế phối hợp, phương án quản lý dữ liệu và lựa chọn một số địa bàn trọng điểm để triển khai thí điểm trước khi nhân rộng, bảo đảm tính khả thi, hiệu quả và phù hợp với định hướng phát triển bền vững ngành dừa của tỉnh.



