A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Nâng chất lượng, hiệu quả sản xuất thủy sản nước ngọt

Dù chỉ chiếm khoảng 16% diện tích nuôi trồng thủy sản (TS) toàn tỉnh nhưng đóng góp hơn 50% sản lượng, TS nước ngọt đang giữ vai trò quan trọng trong ngành TS của tỉnh. Trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường và những thách thức về chi phí, môi trường, dịch bệnh, tỉnh định hướng chuyển từ mở rộng diện tích TS nước ngọt sang nâng cao chất lượng, giá trị và hiệu quả sản xuất.

Lãnh đạo tỉnh và đoàn công tác tham quan thực tế HTX Liên kết chuỗi thủy sản an toàn Vĩnh Long (xã An Bình) áp dụng quy trình nuôi VietGAP.
Lãnh đạo tỉnh và đoàn công tác tham quan thực tế HTX Liên kết chuỗi thủy sản an toàn Vĩnh Long (xã An Bình) áp dụng quy trình nuôi VietGAP.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, toàn tỉnh có khoảng 92,5 ngàn ha nuôi trồng TS, trong đó diện tích nuôi nước ngọt khoảng 15,17 ngàn ha, chiếm 16% nhưng sản lượng chiếm trên 50%, tương đương hơn 330 ngàn tấn. Trong 8 tháng năm 2026, diện tích thả nuôi TS nước ngọt đạt gần 11,4 ngàn ha, bằng 75,09% kế hoạch và tăng 9,4% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch gần 211 ngàn tấn, đạt 62,18% kế hoạch.

Cá tra tiếp tục là đối tượng nuôi chủ lực, với diện tích thả nuôi trên 870ha, tăng 5,1%; sản lượng trên 118 ngàn tấn. Trong khi đó, cá lóc đạt 371ha, tăng 55,2%, sản lượng gần 39,5 ngàn tấn; tôm càng xanh đạt khoảng 4 ngàn ha, tăng 38,7%, sản lượng gần 4,2 ngàn tấn, tăng 57,4% và vượt kế hoạch năm.

Sự tăng trưởng của các đối tượng này cho thấy khả năng đa dạng hóa sản xuất, song cũng đặt ra yêu cầu kiểm soát quy mô theo thị trường và khả năng tiêu thụ.

Nuôi lồng, bè cũng được duy trì tại những khu vực có điều kiện phù hợp. Toàn tỉnh có 266 cơ sở với trên 2,2 ngàn lồng, bè, tổng thể tích hơn 514 ngàn m³, sản lượng đạt gần 14,3 ngàn tấn; cá điêu hồng chiếm khoảng 70%. Riêng xã An Bình có 1,84 ngàn lồng, bè, trong đó 1,33 ngàn lồng, bè đang thả nuôi, sản lượng đến tháng 7/2026 đạt trên 12,1 ngàn tấn.

Ông Phạm Hùng Dũng- Giám đốc HTX Liên kết chuỗi TS an toàn Vĩnh Long (xã An Bình), cho biết: HTX hiện có hơn 100 lồng bè, tổng diện tích 8 ngàn m², áp dụng quy trình nuôi theo tiêu chuẩn VietGAP và được cấp chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, chứng nhận điều kiện tham gia chuỗi thực phẩm an toàn.

Bên cạnh cá điêu hồng, HTX còn đa dạng các đối tượng nuôi như cá hô, cá bông lau, cá tra, cá rô phi, cá chép, cá lăng, cá lóc... Sản phẩm được tiêu thụ qua chợ, hệ thống siêu thị, nhà máy chế biến và nhà hàng, quán ăn. Việc kiểm soát từ khâu nhập giống đến chăm sóc, nuôi dưỡng góp phần nâng chất lượng sản phẩm và tạo niềm tin với người tiêu dùng.

Bên cạnh sản xuất, chuỗi TS nước ngọt, nhất là cá tra, từng bước hoàn thiện từ giống, vùng nuôi đến chế biến, xuất khẩu. Toàn tỉnh có 6 nhà máy chế biến cá tra, công suất khoảng 300 ngàn tấn/năm, sản phẩm được xuất khẩu sang Nhật Bản, Mỹ, EU, Trung- Nam Mỹ và một số nước châu Á.

Hệ thống cung ứng đầu vào cũng được phát triển với 544 cơ sở sản xuất, 334 cơ sở ương dưỡng giống, sản lượng khoảng 575 triệu con; cùng 39 cơ sở sản xuất thức ăn, sản phẩm xử lý môi trường, công suất hơn 1 triệu tấn/năm và hơn 200 cơ sở kinh doanh. Đây là cơ sở để ngành TS từng bước nâng cao giá trị sản phẩm, thay vì chỉ tập trung vào sản lượng nguyên liệu.

Dù đạt nhiều kết quả tích cực, nuôi TS nước ngọt vẫn còn những điểm nghẽn. Nguồn giống cá tra sản xuất trong tỉnh mới đáp ứng khoảng 10-15% nhu cầu, trong khi chất lượng giống ngoài tỉnh khó kiểm soát.

Rủi ro môi trường, dịch bệnh trong mùa mưa còn xảy ra; liên kết giữa người nuôi và doanh nghiệp trong sản xuất, tiêu thụ chưa chặt chẽ. Đối tượng TS đặc sản còn sản xuất nhỏ lẻ, thiếu vùng nguyên liệu và chuỗi giá trị ổn định.

Cùng với đó, chi phí thức ăn, vật tư đầu vào tăng, giá cá nguyên liệu biến động, trong khi đầu ra còn phụ thuộc thương lái. Việc mở rộng nhanh diện tích những đối tượng đang có giá tốt như tôm càng xanh, cá lóc cũng cần được kiểm soát theo tín hiệu thị trường, điều kiện môi trường và khả năng tiêu thụ.

Ngành nông nghiệp tập trung phát triển thủy sản nước ngọt an toàn, bền vững.
Ngành nông nghiệp tập trung phát triển thủy sản nước ngọt an toàn, bền vững.

Theo ông Lâm Văn Tân- Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, thời gian tới, nuôi TS nước ngọt phát triển theo hướng hiệu quả, bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu, ưu tiên những vùng có hạ tầng, nguồn nước và môi trường phù hợp. Trọng tâm chuyển từ mở rộng diện tích sang nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và hiệu quả sử dụng tài nguyên, gắn sản xuất với thị trường và năng lực chế biến.

Đối với cá tra, tỉnh duy trì quy mô phù hợp nhu cầu thị trường, tập trung tại những vùng thuận lợi; mở rộng áp dụng tiêu chuẩn ASC, BAP, VietGAP, đẩy mạnh quan trắc tự động, nhật ký điện tử và truy xuất nguồn gốc. Với cá lóc và các loại cá nuôi ao, sản xuất được tổ chức theo vùng, áp dụng quy trình an toàn và tăng cường liên kết tiêu thụ. Tôm càng xanh được phát triển gắn với hiệu quả và nhu cầu thị trường, chú trọng chất lượng giống, kiểm soát dịch bệnh, môi trường và liên kết sản xuất- tiêu thụ.

Đối với nuôi lồng, bè, tỉnh định hướng duy trì tại những khu vực phù hợp về thủy văn, môi trường, gắn với quan trắc, cảnh báo sớm, quản lý mật độ và đa dạng hóa đối tượng nuôi. Các đối tượng đặc sản như lươn, ếch được ưu tiên phát triển thông qua mô hình điểm, tổ hợp tác, HTX và chuỗi liên kết gắn với chế biến, thương hiệu, thị trường.

Chuyển đổi số sẽ được đẩy mạnh trong quản lý cơ sở nuôi, truy xuất nguồn gốc và dữ liệu vùng nuôi. Công tác quản lý từng bước chuyển từ quản lý riêng lẻ sang quản lý theo vùng nuôi, chuỗi sản xuất và nguy cơ, tập trung vào môi trường, dịch bệnh, chất lượng giống, an toàn thực phẩm và thị trường.