Tin hot

Sản xuất khởi sắc, lạm phát vẫn là thách thức lớn năm 2026


Dù sản xuất khởi sắc, niềm tin kinh doanh cải thiện tháng đầu năm 2026, áp lực lạm phát vẫn hiện hữu. Chuyên gia đề xuất giải pháp kiểm soát giá, giữ ổn định vĩ mô.

Áp lực lạm phát và bài toán chi phí của doanh nghiệp

Hoạt động sản xuất của Việt Nam khởi đầu năm 2026 với nhiều tín hiệu tích cực. Theo báo cáo khảo sát mới nhất của S&P Global, trong tháng 1/2026, sản lượng, số lượng đơn hàng mới và việc làm trong ngành sản xuất đều cải thiện rõ rệt, đưa niềm tin kinh doanh lên mức cao nhất trong 22 tháng. Động lực tăng trưởng tích lũy từ cuối năm 2025 tiếp tục được duy trì, mở ra triển vọng về một năm sản xuất - kinh doanh khởi sắc.

Mua sắm thực phẩm tại hệ thống siêu thị của Central Retail. Ảnh: Vũ Tân

Mua sắm thực phẩm tại hệ thống siêu thị của Central Retail. Ảnh: Vũ Tân

Tuy nhiên, bức tranh tích cực này đang đối mặt với một lực cản lớn khi áp lực lạm phát gia tăng trở lại. Các doanh nghiệp tham gia khảo sát cho biết tình trạng chậm trễ giao hàng xuất phát từ nhu cầu đầu vào tăng cao và sự khan hiếm nguyên, vật liệu. Hệ quả là chi phí đầu vào tiếp tục leo thang ngay từ đầu năm, buộc doanh nghiệp phải tăng giá bán để bù đắp.

Đáng chú ý, tốc độ lạm phát đã lập đỉnh 3,5% trong tháng 12/2025 và chỉ giảm nhẹ trong tháng 1/2026. Tốc độ tăng giá bán trong ngành sản xuất trở nên nhanh hơn, ghi nhận mức cao nhất kể từ tháng 4/2022, cho thấy sức ép chi phí vẫn chưa hề suy giảm.

Ông Andrew Harker - Giám đốc Kinh tế tại S&P Global Market Intelligence, nhận định, ngành sản xuất Việt Nam đã có khởi đầu vững chắc cho năm 2026 khi doanh nghiệp tăng cường sản lượng để đáp ứng lượng đơn hàng mới gia tăng. Tuy nhiên, áp lực lạm phát do khan hiếm nguồn cung nguyên vật liệu đang nổi lên rõ rệt. Các công ty buộc phải tăng giá bán mạnh hơn, và dù nhu cầu hiện chưa suy yếu, nguy cơ đơn hàng giảm trong những tháng tới cần được theo dõi chặt chẽ.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương - PGS. TS Nguyễn Thường Lạng, chuyên gia kinh tế và thương mại quốc tế, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Đại học Kinh tế Quốc dân), cho rằng, áp lực lạm phát đang trở thành thách thức lớn đối với cộng đồng doanh nghiệp, dù các chỉ số sản xuất và đơn hàng ghi nhận cải thiện.

Theo ông, lạm phát hiện nay có thể được nhìn nhận từ hai góc độ. Thứ nhất là lạm phát do chi phí đẩy, bắt nguồn từ lãi suất tăng, chi phí nhập khẩu và giá nguyên vật liệu đầu vào leo thang. Thứ hai là lạm phát do cầu kéo, khi nguồn cung hàng hóa không theo kịp nhu cầu thị trường. Trên thực tế, hai yếu tố này có thể đồng thời tác động, tạo sức ép lớn lên mặt bằng giá.

PGS. TS Nguyễn Thường Lạng nhấn mạnh, trong bối cảnh hiện nay, lạm phát tại Việt Nam chịu ảnh hưởng đáng kể từ lượng tiền cung ứng lưu thông trong nền kinh tế và tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức khá cao, trong khi khả năng hấp thụ vốn chưa đạt như kỳ vọng. Điều này gây áp lực lên chi phí sản xuất – kinh doanh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Để thích ứng, theo chuyên gia này, doanh nghiệp trước hết phải tập trung tiết giảm chi phí, đặc biệt là chi phí quản lý. Việc đẩy mạnh số hóa, tự động hóa trong sản xuất, vận hành sẽ giúp giảm chi phí điện, nước, nhân sự quản lý và các khoản chi thuê ngoài. Song song đó, hạn chế các chi phí không chính thức, chi phí thủ tục phát sinh là yếu tố quan trọng giúp nâng cao sức chịu đựng trước lạm phát.

Một yếu tố khác mang tính sống còn là quản trị thời gian. Chậm trễ trong thủ tục, ra quyết định hay triển khai kế hoạch không chỉ khiến doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội thị trường mà còn làm gia tăng chi phí cơ hội. Trong bối cảnh chi phí leo thang, tốc độ và hiệu quả triển khai trở thành lợi thế cạnh tranh then chốt.

Kiểm soát lạm phát gắn với tăng trưởng bền vững

Ở tầm trung và dài hạn, PGS. TS Nguyễn Thường Lạng cho rằng, doanh nghiệp cần tính tới việc mở rộng quy mô hoạt động để tận dụng lợi thế kinh tế theo quy mô, qua đó giảm chi phí bình quân. Đồng thời, việc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tận dụng các Hiệp định thương mại tự do để mở rộng đầu ra sẽ giúp doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống.

Áp lực lạm phát do khan hiếm nguồn cung nguyên, vật liệu đang nổi lên rõ rệt. Ảnh: Việt Linh

Áp lực lạm phát do khan hiếm nguồn cung nguyên, vật liệu đang nổi lên rõ rệt. Ảnh: Việt Linh

Đặc biệt, trong bối cảnh thị trường nội địa có quy mô lớn nhưng hàng nhập khẩu ngày càng gia tăng, doanh nghiệp trong nước cần nâng cao năng lực cạnh tranh ngay trên “sân nhà”. Điều này đòi hỏi cải tiến chất lượng sản phẩm, đổi mới mẫu mã, gia tăng giá trị gia tăng và xây dựng thương hiệu bài bản hơn.

Theo chuyên gia, logistics là một khâu then chốt. Tối ưu hóa chuỗi logistics từ vận chuyển, lưu kho đến phân phối có thể giúp doanh nghiệp giảm đáng kể chi phí. Thực tế, các chi phí phát sinh trong vận tải, kiểm soát hay chờ đợi đang tạo gánh nặng lớn, làm suy giảm sức cạnh tranh của hàng hóa trong nước.

Ở góc độ chính sách, sự đồng hành của Nhà nước được xem là yếu tố quyết định. Nhà nước cần tiếp tục cải thiện thực chất môi trường kinh doanh, rà soát và cắt giảm các điều kiện kinh doanh không cần thiết, các khâu kiểm soát chồng chéo. Việc giảm chi phí tuân thủ sẽ tạo thêm dư địa cho doanh nghiệp đầu tư, mở rộng sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Trước đó, tại Diễn đàn thường niên về diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam năm 2026, TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính), nhận định: Dư địa giảm giá nhiên liệu và nguyên, vật liệu trong năm 2026 không còn nhiều. Trong khi đó, tác động của tăng trưởng tín dụng và biến động tỷ giá tới CPI vẫn tiếp diễn. Theo dự báo, lạm phát bình quân năm 2026 của Việt Nam có thể xoay quanh mức 3,5% (±0,5%).

Quốc hội đã đặt mục tiêu kiểm soát CPI bình quân năm 2026 khoảng 4,5% tại Nghị quyết số 244/2025/QH15. Để đạt mục tiêu này, công tác quản lý, điều hành giá cần được triển khai đồng bộ, linh hoạt, vừa kiểm soát lạm phát, vừa hỗ trợ sản xuất - kinh doanh và đời sống người dân.

Theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương cần theo dõi sát diễn biến giá cả các mặt hàng chiến lược trên thị trường thế giới, chủ động xây dựng kịch bản ứng phó phù hợp; giám sát chặt chẽ giá các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu trong nước, không để xảy ra tình trạng đầu cơ, găm hàng, đẩy giá.

Bên cạnh đó, chính sách tài khóa cần phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ theo hướng thận trọng, tránh nới lỏng đồng thời gây áp lực lạm phát. Việc điều chỉnh giá các dịch vụ công và hàng hóa do Nhà nước quản lý cần bám sát lộ trình thị trường, bảo đảm hài hòa mục tiêu ổn định vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng.

Theo TS. Lê Quốc Phương - nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại (Bộ Công Thương), bài học từ giai đoạn 2004 - 2011 cho thấy, việc tăng trưởng nóng đi kèm lạm phát cao sẽ để lại hệ lụy lớn cho nền kinh tế. Do đó, trong giai đoạn hiện nay, cần ưu tiên tăng trưởng bền vững, kiểm soát chặt dòng tiền, bảo đảm tín dụng đi vào sản xuất, kinh doanh, tạo ra năng lực và giá trị thực.

Về dài hạn, các chuyên gia cho rằng Việt Nam cần đẩy nhanh chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng chiều sâu, dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh và khu vực kinh tế tư nhân. Cải cách thể chế, nâng cao hiệu quả đầu tư và chất lượng xuất khẩu sẽ là nền tảng quan trọng để vừa duy trì tăng trưởng, vừa kiểm soát lạm phát trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng.

Năm 2026, mục tiêu kiểm soát Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) ở mức khoảng 4,5%. Đây được xem là định hướng quan trọng để củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tạo dư địa cho tăng trưởng.

Tác giả: Nguyễn Hạnh
Tìm kiếm chúng tôi